:: wikimiki.org ::
| Liên Bang Sô-viết |
Liên bang sô-viết
Liên Xô, cũng gọi là Liên bang Xô viết (tên đầy đủ Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết, tiếng Nga: Союз Советских Социалистических Республик (СССР)), là một cựu quốc gia chiếm phần lớn châu Âu và châu Á, tồn tại từ 30 tháng 12 năm 1922 cho đến khi chính thức tan rã vào ngày 25 tháng 12 năm 1991. Sự thành lập quốc gia này gắn liền với quá trình sụp đổ của Đế chế Nga trong thế chiến thứ nhất và cuộc cách mạng tháng 2 lật đổ chính quyền Nga hoàng và Cách mạng tháng Mười năm 1917, đã lật đổ Chính phủ Lâm thời Kerensky thành lập ở Nga. Liên Xô hình thành là kết quả thắng lợi của những người cộng sản Nga (Bolshevich) đứng đầu là Lenin trong cách mạng và trong cuộc nội chiến Nga đẫm máu sau cách mạng tháng mười.
Liên Xô là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện xây dựng chủ nghĩa Cộng sản và cũng là nước xã hội chủ nghĩa (cộng sản) đầu tiên từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Là một nước lớn nhất thế giới sự xuất hiện của nhà nước Liên Xô xã hội chủ nghĩa đã có ảnh hưởng rất to lớn đến tiến trình lịch sử của thế giới, lịch sử thế giới trong thế kỷ 20 sau khi Liên Xô xuất hiện ở mức độ nhiều hay ít đều có dấu ấn và chịu ảnh hưởng của quốc gia này.
Từ sau thế chiến thứ hai Liên Xô bước ra với tư thế kẻ chiến thắng và mạnh lên thành một siêu cường của thế giới. Nửa sau thế kỷ 20 là cuộc đấu tranh giữa hai phe tư bản chủ nghĩa do Hoa Kỳ đứng đầu và phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu mà chiến tranh lạnh là thể hiện tập trung nhất của cuộc đấu tranh này.
Lãnh thổ của Liên Xô thay đổi theo thời gian, vào thời gian gần đây nhất nó giống như lãnh thổ Đế quốc Nga thời cuối, trừ các nước Ba Lan và Phần Lan.
Liên Xô và Việt Nam (lập quan hệ ngoại giao ngày 3 tháng 1 năm 1950. Ngày nay, mối quan hệ này được Cộng hòa liên bang Nga và Việt Nam duy trì và phát triển.
phải
Thành phần và những thay đổi về lãnh thổ
Thành phần Liên bang Xô viết như sau:
- theo Hiệp ước về thành lập Liên Xô (30 tháng 12, 1922) — Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Belorussia, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz (từ 1936 ở Ngoại Kavkaz đã thành lập các nước cộng hoà liên bang riêng rẽ — Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Azerbaidjan, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Armenia và Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia;
- năm 1925 — Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Turkmenia;
- năm 1929 — Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tadjikistan;
- năm 1936 — Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakhstan, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kirgizia;
- năm 1940 — Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Latvia, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Litva và Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Estonia.
Trong thời kỳ 1940-1954 tồn tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Karelo-Phần Lan, về sau là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tự trị Karelia trong thành phần Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga.
Lịch sử Liên Xô
Cách mạng và sự hình thành Liên Xô
Sự hình thành Liên Xô gắn liền với sự sụp đổ của Đế chế Nga trong thế chiến thứ nhất và hoạt động của đảng cộng sản (Bolshevic) Nga do Lenin đứng đầu.
Đầu thế kỷ 20 Đế chế Nga là một cường quốc ở châu Âu có tiềm lực đất đai, con người to lớn nhưng trình độ phát triển kinh tế xã hội là lạc hậu so với các cường quốc châu Âu khác. Trong lòng xã hội ẩn chứa nhiều mâu thuẫn gay gắt không được giải tỏa, xã hội Nga là xã hội chuyên chế độc tài của quý tộc và tư sản lớn, tự do tư tưởng bị bóp nghẹt không làm hài lòng giới trung lưu thành thị và tư sản, quý tộc nhỏ. Giai cấp công nhân bị bóc lột nặng nề nhất trong số các nước ở châu Âu. Nước Nga lại là nơi có phong trào Marxist cấp tiến mạnh nhất mà đứng đầu là Lenin với đảng Bolshevic với chủ trương làm cách mạng xã hội chủ nghĩa để dây dựng chủ nghĩa cộng sản.
Tất cả những mâu thuẫn trên trong thế chiến thứ nhất không những không được cởi bỏ mà cùng với những thất bại to lớn trong chiến tranh xã hội Nga đi vào bất ổn. Quốc khố cạn kiệt, nợ nước ngoài tăng cao, đời sống dân chúng cực khổ. Chiến tranh làm phá sản hàng loạt doanh nghiệp gây nạn thất nghiệp to lớn trong các thành phố, nạn đói lan tràn tại miền nông thôn, các tầng lớp nhân dân, binh lính oán ghét nhà cầm quyền và chiến tranh, trong quân đội mâu thuẫn giữa binh lính và tầng lớp sỹ quan quý tộc phát triển thành chống đối. Tháng 2 năm 1917 đã nổ ra cách mạng tháng 2: khởi nghĩa tại Petrograd đã lật đổ chính phủ Nga hoàng và thành lập chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản do Kerensky - một đảng viên của đảng SR (cách mạng xã hội) đứng đầu. Chính phủ lâm thời chủ trương phá bỏ chế độ độc tài chuyên chế, tự do hóa xã hội theo các tiêu chuẩn như các quốc gia châu Âu đương thời, nhưng vẫn chủ trương theo đuổi chiến tranh bên phía đồng minh Anh - Pháp đến thắng lợi cuối cùng. Chính phủ tuyên bố đảm bảo quyền lợi của giai cấp công nhân.
Dưới sự lãnh đạo của đảng Bolshevich đồng loạt xuất hiện các tổ chức hội đồng (tiếng nga là Xô viết- совет) của công nhân, nông dân và binh sỹ để bảo vệ quyền lợi của chính mình. Thời gian giữa hai cuộc cách mạng là thời gian hai chính quyền cùng song song tồn tại: chính quyền trung ương là của chính phủ lâm thời nhưng các sắc lệnh muốn thi hành ở bên dưới phải có sự chấp thuận của các xô viết của công - nông - binh. Đảng Bolshevic kêu gọi tiến hành làm cách mạng xã hội chủ nghĩa với khẩu hiệu "tất cả chính quyền về tay các Xô viết" và kêu gọi binh lính phản chiến làm cách mạng "Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng". Chính phủ lâm thời trong thời gian tám tháng tồn tại của mình đã bất lực trong cả nỗ lực chiến tranh và ổn định tình hình trong nước: quân đội đang tan rã không còn tuân lệnh cấp trên, bắt giết sỹ quan và tự động rút lui. Các lực lượng bảo hoàng tiến quân về thủ đô để giải tán chính phủ lâm thời (cuộc hành quân của tướng Kornilov- Корнилов), chính phủ lâm thời phải dựa vào các xô viết huy động công nhân, binh sỹ cách mạng của xô viết để làm tan rã quân bảo hoàng, do đó thế lực của các xô viết mạnh lên rất nhiều và chính phủ lâm thời không thể kiềm chế được các xô viết nữa. Nước Nga rơi vào hỗn loạn chính phủ không thể kiểm soát được tình hình.
Ngày 25 tháng 10 năm 1917 (theo lịch Julian) tức 7 tháng 11 (Gregorian) Lenin và các đảng viên Bolshevic lãnh đạo các xô viết công - nông - binh làm cách mạng tháng 10 Nga lập chính quyền xô viết của công, nông, binh. Chính quyền này ngay lập tức ra khỏi chiến tranh với các điều kiện rất ngặt nghèo của phía Đức (hoà ước Brest- Litov).
Ngay sau cách mạng tháng 10 nước Nga rơi vào thời kỳ nội chiến cực kỳ khốc liệt đẫm máu. Phía cách mạng là công nhân, binh sỹ cách mạng và một bộ phận nông dân, một bên là các lực lượng phản cách mạng gồm bảo hoàng, thành phần trí thức trung lưu thành thị, sỹ quan, một bộ phận nông dân, người Cô dắc...Phe phản cách mạng được sự giúp đỡ của các quốc gia châu Âu. Cuộc nội chiến này được đặc trưng bởi tính ác liệt không khoan nhượng của nó... Đến cuối năm 1920 về cơ bản các lực lượng phản cách mạng đã thất bại, chính quyền Xô viết được thành lập trên toàn lãnh thổ còn lại của đế quốc Nga.
Ngày 30 tháng 12 năm 1922 những vùng lãnh thổ còn lại của đế quốc Nga (trừ Ba Lan và Phần Lan giành được độc lập) tuyên bố thành lập một quốc gia mới Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết
Trước chiến tranh
Ngay sau nội chiến, nền kinh tế Liên Xô đứng trước nguy cơ phá sản: ở nông thôn, nạn đói hoành hành; còn ở thành phố, công nghiệp đình đốn, tiền không còn giá trị. Đứng trước tình hình đó, Lenin cho tiến hành chính sách kinh tế mới (NEP - Новый экономический план - НЭП) để thay thế cho chính sách cộng sản thời chiến. NEP là chính sách dùng cơ chế kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, kêu gọi đầu tư tư bản dưới sự định hướng kiểm soát của Nhà nước: trong nông nghiệp thay vì trưng thu mọi nông sản của nông dân như trong chính sách cộng sản thời chiến, NEP dùng cơ chế thuế để điều tiết, nông dân sau khi làm nghĩa vụ thuế có thể mua bán nông sản trên thị trường tự do. Tại thành phố chính sách mới khuyến khích kêu gọi vốn đầu tư của tư bản trong nước và nước ngoài, nhà nước chỉ kiểm soát những ngành quan trọng sống còn. NEP đã nhanh chóng cho kết quả tốt: nạn đói bị đẩy lùi, công nghiệp phục hồi, xã hội có tích luỹ và đời sống người dân tốt lên nhanh chóng.
Sau khi V. I. Lenin chết (1924), trong ban lãnh đạo đất nước này đã diễn ra cuộc đấu tranh nội bộ khốc liệt để tranh giành quyền lực mà chủ yếu là giữa hai nhóm của Stalin và Trosky. Dần dần phe Stalin thắng thế đưa Stalin vào vị trí độc tôn trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước với hình thức tập quyền cao nhất là sùng bái cá nhân Stalin. Để củng cố vị trí tuyệt đối của mình Stalin thu tóm tất cả cơ cấu quyền lực vào tay cá nhân, dùng thanh trừng nội bộ để khủng bố mọi đối thủ và mọi chính kiến bất đồng. Bộ máy Bộ dân ủy nội vụ (NKVD - Народный коммисариат внутренних дел - НКВД) được dùng như công cụ cá nhân của lãnh tụ Stalin để tạo tài liệu vu khống và tiêu diệt các đối tượng cần thanh trừng.
Về mặt kinh tế xã hội những năm 1920 - 1930 được đặc trưng bởi sự chấm dứt của chính sách kinh tế mới và thiết lập nền kinh tế nhà nước tập trung cao độ theo kinh tế kế hoạch hoá toàn diện. Xã hội Liên Xô được đặc trưng bởi sự bao trùm của bộ máy đảng trong mọi chức năng xã hội. Liên Xô ở thời gian này tiến hành thành công công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa: Cho đến nay trong nước Nga và trên thế giới vẫn còn tranh luận nhiều về công nghiệp hóa của Liên Xô trong các thập kỷ 1920 - 1930 nhưng kết quả thực tế là Liên Xô đã trở thành một nước công nghiệp lớn của thế giới trong một thời gian rất ngắn và điều này là nền tảng kinh tế cho chiến thắng của Liên Xô trong thế chiến thứ 2. Mặt khác công nghiệp hoá với tốc độ và quy mô rất lớn đòi hỏi nỗ lực cực cao của xã hội đã gây ra các căng thẳng và tạo nên nạn đói khủng khiếp làm chết vài triệu người nhất là tại Ucraina. Nạn đói tại Liên Xô những năm 1930 là lý do để ban lãnh đạo Liên Xô tiến hành tập thể hoá nông nghiệp cưỡng bức ở nông thôn. Tập thể hóa nông nghiệp cưỡng bức đã vấp phải sự phản kháng dữ dội của tầng lớp trung nông (họ được gọi là Kulak). Để hỗ trợ cho tập thể hóa Stalin cho tiến hành chiến dịch chống Kulak rất quyết liệt: toàn bộ tài sản của Kulak bị tịch thu, gia đình họ bị lưu đầy đến những vùng hoang dã. Sau công nghiệp hóa và tập thể hóa kinh tế Liên Xô chỉ còn hai thành phần kinh tế nhà nước và tập thể với đặc điểm tập trung hóa cao độ.
Đời sống tâm lý xã hội tại Liên Xô trong những năm 1920 - 1930 là kết hợp của hai yếu tố:
- Một mặt nỗi lo sợ bị khủng bố bao trùm không một ai (trừ Stalin) dù ở cương vị tầng lớp nào mà có thể được loại trừ khỏi khả năng bị NKVD xử lý và nỗi sợ khủng bố là chính sách chính thống để duy trì kỷ luật xã hội. Quy mô thanh trừng là rất lớn thậm chí người ta phải lập ra GULAG (tổng cục quản lý trại tập trung - Главное управление лагерей - ГУЛАГ) trực thuộc bộ dân ủy nội vụ NKVD. Chức năng của GULAG không chỉ là để trấn áp mà còn là cách giải quyết vấn đề nhân lực để khai phá những vùng hoang dã gian khổ.
- Mặt khác những nhân tố tích cực của cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa đã tạo động lực lớn, gây nên những làn sóng phấn khởi trong cuộc sống xã hội, những phong trào lớn được sự hưởng ứng của nhân dân, tâm lý chung của xã hội là hy sinh cho tương lai tươi sáng của đất nước và chủ nghĩa xã hội, niềm tin tuyệt đối vào lãnh tụ Stalin.
Chiến tranh thế giới thứ hai
В конце 1930-х гг. произошли резкие изменения внешней политики страны, отход от курса коллективной безопасности. Заключены Советско-германские договоры 1939 (в том числе так называемый пакт Молотова-Риббентропа), поделившие сферы влияния в Европе, в соответствии с которыми в начале Второй мировой войны в состав СССР были включены Западная Украина и Западная Белоруссия, в 1940 — страны Прибалтики, Бессарабия (Молдавия) и Северная Буковина.
В результате начатой СССР советско-финляндской войны (30 ноября 1939 — 12 марта 1940), которая нанесла сильный удар по международному авторитету страны (СССР был исключён из Лиги Наций), к СССР отошёл Карельский перешеек и др.
В 1941 Германия напала на Советский Союз (см. Великая Отечественная война 1941—1945).
Война причинила неимоверные страдания и горе всему советскому народу, привела к гибели десятков миллионов человек, разрушениям тысяч городов и сёл, разорению сельского хозяйства, разрушению промышленности, разграблению культурного достояния страны на оккупированных территориях.
В период войны советским правительством проводилась
насильственная депортация целых народов — балкарцев, ингушей, чеченцев, калмыков, крымских татар, карачаевцев, греков, турок-месхетинцев, немцев и др.
В октябре 1944 была ликвидирована и включена в состав СССР Тувинская Народная Республика.
Sau chiến tranh
Liên Xô phục hồi; chiến tranh lạnh
После победы в войне, на основании договорённостей, достигнутых участниками антигитлеровской коалиции, территория страны была расширена за счёт присоединения Южного Сахалина и Курильских островов, районов Петсамо (Печенга), Клайпеды, Кёнигсберга (Калининграда), Закарпатской Украины.
По завершении войны стране пришлось пережить долгий период восстановления и подъёма разрушенного хозяйства. Это сопровождалось крайне жёсткими мерами по восстановлению и укреплению советской власти на территориях, вошедших в состав СССР в 1939—1940 гг., репрессиями против представителей национальной буржуазии, интеллигенции, прежней государственной власти, вооружённым подавлением сопротивления на Западной Украине, в Западной Белоруссии, Прибалтике.
В послевоенный период в стране продолжались репрессии (борьба с космополитизмом, «ленинградское дело» и др.), прекратившиеся лишь со смертью Сталина; были разорваны союзнические отношения со странами Запада, началась «холодная война» двух систем, гонка вооружений.
Tan băng
На XX съезде КПСС (1956) Н. С. Хрущёв выступил с критикой так называемого культа личности Сталина. Началась реабилитация жертв репрессий, было разрешено возвращение на родину депортированным народам (за исключением крымских татар и турок-месхетинцев); больше внимания стало уделяться повышению уровня жизни народа, развитию сельского хозяйства, жилищного строительства, лёгкой промышленности.
Концентрация научных и производственных сил, материальных средств на отдельных направлениях науки и техники позволила осуществить значительные достижения: создана первая в мире атомная электростанция (1954), запущен первый искусственный спутник Земли (1957), первый космический корабль с лётчиком-космонавтом (1961); расширились международные связи СССР, уменьшилась угроза ядерной войны (Договор о запрещении испытаний ядерного оружия 1963 и др.).
Trì trệ
Однако попытки обновления страны в рамках сохранявшейся тоталитарной партийно-государственной системы осуществлялись непоследовательно и потерпели неудачу — к власти пришли консервативные силы. Партию и государство возглавил Л. И. Брежнев. Хозяйственные реформы, предпринятые по инициативе А. Н. Косыгина, были свёрнуты, экономика продолжала развиваться по экстенсивному пути, в значительной мере за счёт экспорта нефти и газа, хищнического использования природных ресурсов, что позволяло поддерживать усиленную милитаризацию страны.
Ослабление международной напряженности чередовалось с вооружённым подавлением попыток реформ в Венгрии (1956), Чехословакии (1968) и вводом войск в Афганистан (1979), которые приводили к обострению конфронтации двух систем, усилению гонки вооружений.
Cải tổ và tan rã
С 1985 М. С. Горбачёв и его сторонники начали политику перестройки, резко выросла политическая активность народа, сформировались массовые, в том числе национальные, движения и организации. Попытки реформирования советской системы привели к углублению кризиса в стране. Союзные республики одна за другой принимали декларации о собственном суверенитете. На территории страны вспыхивали межнациональные конфликты, которые удавалось на время подавить лишь применением вооружённой силы.
Ряд государственных и партийных деятелей, под лозунгами сохранения единства страны и восстановления жёсткого партийно-государственного контроля над всеми сферами жизни, предприняли попытку государственного переворота (ГКЧП, 19 августа 1991), но не получили поддержки от народа. Эта попытка привела к ещё большему углублению противоречий между союзными республиками, нарастанию взаимного недовольства между национальными элитами.
В декабре 1991 Белоруссия, Россия и Украина констатировали прекращение существования СССР и подписали Соглашение о создании Содружества Независимых Государств (СНГ) (8 декабря 1991, Минск). Азербайджан, Армения, Белоруссия, Казахстан, Киргизия, Молдавия, Россия, Таджикистан, Туркмения, Узбекистан, Украина в Декларации (21 декабря 1991, Алма-Ата) заявили о приверженности целям и принципам Соглашения о создании Содружества Независимых Государств (СНГ).
Советский Союз оставил после себя неизгладимый след в истории всего человечества, многих стран и народов. Государство, созданное на царившем после 1917 года революционном энтузиазме и добившееся путём неимоверного напряжения человеческих сил и энергии выдающихся достижений в культуре, науке и технике, оказалось в конце своего существования одной из величайших мировых империй, державшейся на жёстком идеологическом и партийно-государственном контроле. Распад Советского Союза, произошедший во многом благодаря ослаблению этого контроля, привёл к радикальным изменениям на политической карте и исчезновению биполярного мира, строившегося на балансе сил двух сверхдержав — СССР и США.
Сайты -[http://cccp.narod.ru], http://ussr-online.ru]
Phân chia lãnh thổ Liên Xô
В [[1954]] — [[1991 Советский Союз состоял из 15 союзных Советских Социалистических Республик (ССР), которые, в свою очередь, делились на области. При этом Латвийская, Литовская, Эстонская, Молдавская и Армянская ССР областного деления не имели.
В состав РСФСР также входили края, а в состав краёв — автономные области. В состав областей и краёв РСФСР также входили национальные округа (впоследствии именовавшиеся автономными округами).
В состав некоторых союзных республик (Россия, Грузия, Азербайджан, Узбекистан, Таджикистан) входили Автономные Советские Социалистические Республики (АССР) и автономные области.
Все вышеуказанные административно-территориальные единицы делились на районы и города областного, краевого и республиканского подчинения.
Danh nhân thời Xô viết
Những nhà lãnh đạo quan trọng
- Vladimir Ilyich Lenin (Ulyanov) (Владимир Ильич Ленин, Ульянов)
- Lev Davydovich Trotsky (Лев Давыдович Троцкий)
- Iosif Vissarionovich Stalin (Dzhugashvili) (Иосиф Виссарионович Сталин, Джугашвили)
- Nikita Sergeevich Khrushov (Никита Сергеевич Хрущёв)
- Leonid Ilyich Brezhnev (Леонид Ильич Брежнев)
- Mikhail Sergeevich Gorbachov (Михаил Сергеевич Горбачёв)
Một số chính khách khác
- Feliks Edmundovich Dzerzhinsky (Феликс Эдмундович Дзержинский)
- Maksim Maksimovich Litvinov (Максим Максимович Литвинов)
- Vyacheslav Mikhailovich Molotov (Вячеслав Михайлович Молотов)
- Lavrenty Pavlovich Beria (Лаврентий Павлович Берия)
- Andrey Andreevich Gromyko (Андрей Андреевич Громыко)
Nhà quân sự
- Georgi Konstantinovich Zhukov (Георгий Константинович Жуков)
Các nhà khoa học và kỹ thuật
- Andrei Dmitrievich Sakharov (Андрей Дмитриевич Сахаров)
- Igor Vasilevich Kurchatov (Игорь ВасильевичКурчатов]]
- Sergei Pavlovich Korolyov (Сергей Павлович Королёв)
- Yuri Alekseevich Gagarin (Юрий Алексеевич Гагарин)
Văn nghệ sĩ
- Boris Leonidovich Pasternak (Борис Леонидович Пастернак)
- Mikhail Aleksandrovich Sholokhov (Михаил Александрович Шолохов)
- Aleksandr Isaevich Solzhenitsyn (Александр Исаевич Солженицын)
Vận động viên
- Larisa Semyonovna Latynina (Лариса Семёновна Латынина)
- Vladislav Aleksandrovich Tretyak (Владислав Александрович Третьяк)
- Lev Ivanovich Yashin (Лев Иванович Яшин)
Xem thêm
- Nga
- Đảng Cộng sản Liên Xô
- Danh sách lãnh tụ Liên Xô
- KGB (КГБ, tức Комитет Государственной Безопасности, Uỷ ban An ninh Nhà nước)
Liên kết ngoài
- Chính quyền Xô viết là gì?, diễn văn của Lenin (Что такое советская власть?
- [http://www.hist.msu.ru/ER/Etext/cnst1924.htm Hiến pháp Liên Xô 1924]
- [http://www.hist.msu.ru/ER/Etext/cnst1936.htm Hiến pháp Liên Xô 1936]
- [http://www.hist.msu.ru/ER/Etext/cnst1977.htm Hiến pháp Liên Xô 1977]
- [http://cccp.narod.ru/ Liên Xô]
Thể loại:Cộng sản
Thể loại:Quốc gia thời xưa
Thể loại:Lịch sử Nga
Thể loại:Cựu quốc gia
ko:소비에트 연방
ja:ソビエト連邦
simple:Soviet Union
th:สหภาพโซเวียต
Tiếng NgaTiếng Nga (русский язык, phát âm theo kí hiệu IPA là /'ruski jɪ'zɨk/) là ngôn ngữ được nói nhiều nhất của những ngôn ngữ Slav.
Tiếng Nga thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, nghĩa là nó liên quan với tiếng Phạn, tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh, với những ngôn ngữ trong nhóm gốc Đức, nhóm gốc Celt và nhóm Rôman, kể cả tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ái Nhĩ Lan (còn gọi là tiếng Gaelic tại Ireland). Mẫu chữ viết của tiếng Nga có từ thế kỷ thứ 10 đến nay.
Dù cho nó vẫn còn giữ nhiều cấu trúc biến tố tổng hợp cổ và gốc từ một tiếng Slav chung, tiếng Nga hiện đại cũng có nhiều phần của từ vựng quốc tế về chính trị, khoa học, và kỹ thuật. Tiếng Nga là một trong những ngôn ngữ chính của Liên Hiệp Quốc và là một ngôn ngữ quan trọng trong thế kỷ thứ 20.
Phân loại
Tiếng Nga là ngôn ngữ gốc Slav thuộc hệ Ấn-Âu.
Các ngôn ngữ gần nhất với tiếng Nga là tiếng Belarus và tiếng Ukrain, cả hai đều thuộc nhánh phía Đông của nhóm gốc Slav.
Liên kết
Về ngôn ngữ này
- Chữ cái của tiếng Nga
- Ngữ pháp của tiếng Nga
- Phép chính tả của tiếng Nga
- Hệ ngữ âm của tiếng Nga
- Lịch sử tiếng Nga
Ngôn ngữ liên quan
- Nhóm ngôn ngữ gốc Slav miền Đông
- Tiếng Nga cổ
- Tiếng Slav của Nhà Thờ
- Tiếng Slav cổ của Nhà Thờ
Các liên quan khác
- Văn học Nga
- Hài hước Nga (Russian humor?)
- Tục ngữ Nga
- Cải cách phép chính tả của tiếng Nga
- Mã hoá tiếng Volapuk
Nga
Nga
Nga
ms:Bahasa Russia
ko:러시아어
ja:ロシア語
simple:Russian language
th:ภาษารัสเซีย
Quốc giaQuốc gia hay nước là vùng địa lý và chính quyền có chính phủ, luật lệ, hiến pháp, cảnh sát, quân đội, luật thuế, và dân tộc.
Xem thêm
- Danh sách các nước trên thế giới
- Danh sách quốc gia theo dân số
- Danh sách các nước không còn nữa
Thể loại:Địa lý học
Thể loại:Thế giới
Thể loại:Chính trị
zh-min-nan:Kok-ka
ja:国
simple:Country
zh-cn:国家
zh-tw:國家
Liên Xô
Liên Xô, cũng gọi là Liên bang Xô viết (tên đầy đủ Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết, tiếng Nga: Союз Советских Социалистических Республик (СССР)), là một cựu quốc gia chiếm phần lớn châu Âu và châu Á, tồn tại từ 30 tháng 12 năm 1922 cho đến khi chính thức tan rã vào ngày 25 tháng 12 năm 1991. Sự thành lập quốc gia này gắn liền với quá trình sụp đổ của Đế chế Nga trong thế chiến thứ nhất và cuộc cách mạng tháng 2 lật đổ chính quyền Nga hoàng và Cách mạng tháng Mười năm 1917, đã lật đổ Chính phủ Lâm thời Kerensky thành lập ở Nga. Liên Xô hình thành là kết quả thắng lợi của những người cộng sản Nga (Bolshevich) đứng đầu là Lenin trong cách mạng và trong cuộc nội chiến Nga đẫm máu sau cách mạng tháng mười.
Liên Xô là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện xây dựng chủ nghĩa Cộng sản và cũng là nước xã hội chủ nghĩa (cộng sản) đầu tiên từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Là một nước lớn nhất thế giới sự xuất hiện của nhà nước Liên Xô xã hội chủ nghĩa đã có ảnh hưởng rất to lớn đến tiến trình lịch sử của thế giới, lịch sử thế giới trong thế kỷ 20 sau khi Liên Xô xuất hiện ở mức độ nhiều hay ít đều có dấu ấn và chịu ảnh hưởng của quốc gia này.
Từ sau thế chiến thứ hai Liên Xô bước ra với tư thế kẻ chiến thắng và mạnh lên thành một siêu cường của thế giới. Nửa sau thế kỷ 20 là cuộc đấu tranh giữa hai phe tư bản chủ nghĩa do Hoa Kỳ đứng đầu và phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu mà chiến tranh lạnh là thể hiện tập trung nhất của cuộc đấu tranh này.
Lãnh thổ của Liên Xô thay đổi theo thời gian, vào thời gian gần đây nhất nó giống như lãnh thổ Đế quốc Nga thời cuối, trừ các nước Ba Lan và Phần Lan.
Liên Xô và Việt Nam (lập quan hệ ngoại giao ngày 3 tháng 1 năm 1950. Ngày nay, mối quan hệ này được Cộng hòa liên bang Nga và Việt Nam duy trì và phát triển.
phải
Thành phần và những thay đổi về lãnh thổ
Thành phần Liên bang Xô viết như sau:
- theo Hiệp ước về thành lập Liên Xô (30 tháng 12, 1922) — Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Belorussia, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz (từ 1936 ở Ngoại Kavkaz đã thành lập các nước cộng hoà liên bang riêng rẽ — Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Azerbaidjan, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Armenia và Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia;
- năm 1925 — Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Turkmenia;
- năm 1929 — Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tadjikistan;
- năm 1936 — Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakhstan, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kirgizia;
- năm 1940 — Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Latvia, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Litva và Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Estonia.
Trong thời kỳ 1940-1954 tồn tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Karelo-Phần Lan, về sau là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tự trị Karelia trong thành phần Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga.
Lịch sử Liên Xô
Cách mạng và sự hình thành Liên Xô
Sự hình thành Liên Xô gắn liền với sự sụp đổ của Đế chế Nga trong thế chiến thứ nhất và hoạt động của đảng cộng sản (Bolshevic) Nga do Lenin đứng đầu.
Đầu thế kỷ 20 Đế chế Nga là một cường quốc ở châu Âu có tiềm lực đất đai, con người to lớn nhưng trình độ phát triển kinh tế xã hội là lạc hậu so với các cường quốc châu Âu khác. Trong lòng xã hội ẩn chứa nhiều mâu thuẫn gay gắt không được giải tỏa, xã hội Nga là xã hội chuyên chế độc tài của quý tộc và tư sản lớn, tự do tư tưởng bị bóp nghẹt không làm hài lòng giới trung lưu thành thị và tư sản, quý tộc nhỏ. Giai cấp công nhân bị bóc lột nặng nề nhất trong số các nước ở châu Âu. Nước Nga lại là nơi có phong trào Marxist cấp tiến mạnh nhất mà đứng đầu là Lenin với đảng Bolshevic với chủ trương làm cách mạng xã hội chủ nghĩa để dây dựng chủ nghĩa cộng sản.
Tất cả những mâu thuẫn trên trong thế chiến thứ nhất không những không được cởi bỏ mà cùng với những thất bại to lớn trong chiến tranh xã hội Nga đi vào bất ổn. Quốc khố cạn kiệt, nợ nước ngoài tăng cao, đời sống dân chúng cực khổ. Chiến tranh làm phá sản hàng loạt doanh nghiệp gây nạn thất nghiệp to lớn trong các thành phố, nạn đói lan tràn tại miền nông thôn, các tầng lớp nhân dân, binh lính oán ghét nhà cầm quyền và chiến tranh, trong quân đội mâu thuẫn giữa binh lính và tầng lớp sỹ quan quý tộc phát triển thành chống đối. Tháng 2 năm 1917 đã nổ ra cách mạng tháng 2: khởi nghĩa tại Petrograd đã lật đổ chính phủ Nga hoàng và thành lập chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản do Kerensky - một đảng viên của đảng SR (cách mạng xã hội) đứng đầu. Chính phủ lâm thời chủ trương phá bỏ chế độ độc tài chuyên chế, tự do hóa xã hội theo các tiêu chuẩn như các quốc gia châu Âu đương thời, nhưng vẫn chủ trương theo đuổi chiến tranh bên phía đồng minh Anh - Pháp đến thắng lợi cuối cùng. Chính phủ tuyên bố đảm bảo quyền lợi của giai cấp công nhân.
Dưới sự lãnh đạo của đảng Bolshevich đồng loạt xuất hiện các tổ chức hội đồng (tiếng nga là Xô viết- совет) của công nhân, nông dân và binh sỹ để bảo vệ quyền lợi của chính mình. Thời gian giữa hai cuộc cách mạng là thời gian hai chính quyền cùng song song tồn tại: chính quyền trung ương là của chính phủ lâm thời nhưng các sắc lệnh muốn thi hành ở bên dưới phải có sự chấp thuận của các xô viết của công - nông - binh. Đảng Bolshevic kêu gọi tiến hành làm cách mạng xã hội chủ nghĩa với khẩu hiệu "tất cả chính quyền về tay các Xô viết" và kêu gọi binh lính phản chiến làm cách mạng "Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng". Chính phủ lâm thời trong thời gian tám tháng tồn tại của mình đã bất lực trong cả nỗ lực chiến tranh và ổn định tình hình trong nước: quân đội đang tan rã không còn tuân lệnh cấp trên, bắt giết sỹ quan và tự động rút lui. Các lực lượng bảo hoàng tiến quân về thủ đô để giải tán chính phủ lâm thời (cuộc hành quân của tướng Kornilov- Корнилов), chính phủ lâm thời phải dựa vào các xô viết huy động công nhân, binh sỹ cách mạng của xô viết để làm tan rã quân bảo hoàng, do đó thế lực của các xô viết mạnh lên rất nhiều và chính phủ lâm thời không thể kiềm chế được các xô viết nữa. Nước Nga rơi vào hỗn loạn chính phủ không thể kiểm soát được tình hình.
Ngày 25 tháng 10 năm 1917 (theo lịch Julian) tức 7 tháng 11 (Gregorian) Lenin và các đảng viên Bolshevic lãnh đạo các xô viết công - nông - binh làm cách mạng tháng 10 Nga lập chính quyền xô viết của công, nông, binh. Chính quyền này ngay lập tức ra khỏi chiến tranh với các điều kiện rất ngặt nghèo của phía Đức (hoà ước Brest- Litov).
Ngay sau cách mạng tháng 10 nước Nga rơi vào thời kỳ nội chiến cực kỳ khốc liệt đẫm máu. Phía cách mạng là công nhân, binh sỹ cách mạng và một bộ phận nông dân, một bên là các lực lượng phản cách mạng gồm bảo hoàng, thành phần trí thức trung lưu thành thị, sỹ quan, một bộ phận nông dân, người Cô dắc...Phe phản cách mạng được sự giúp đỡ của các quốc gia châu Âu. Cuộc nội chiến này được đặc trưng bởi tính ác liệt không khoan nhượng của nó... Đến cuối năm 1920 về cơ bản các lực lượng phản cách mạng đã thất bại, chính quyền Xô viết được thành lập trên toàn lãnh thổ còn lại của đế quốc Nga.
Ngày 30 tháng 12 năm 1922 những vùng lãnh thổ còn lại của đế quốc Nga (trừ Ba Lan và Phần Lan giành được độc lập) tuyên bố thành lập một quốc gia mới Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết
Trước chiến tranh
Ngay sau nội chiến, nền kinh tế Liên Xô đứng trước nguy cơ phá sản: ở nông thôn, nạn đói hoành hành; còn ở thành phố, công nghiệp đình đốn, tiền không còn giá trị. Đứng trước tình hình đó, Lenin cho tiến hành chính sách kinh tế mới (NEP - Новый экономический план - НЭП) để thay thế cho chính sách cộng sản thời chiến. NEP là chính sách dùng cơ chế kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, kêu gọi đầu tư tư bản dưới sự định hướng kiểm soát của Nhà nước: trong nông nghiệp thay vì trưng thu mọi nông sản của nông dân như trong chính sách cộng sản thời chiến, NEP dùng cơ chế thuế để điều tiết, nông dân sau khi làm nghĩa vụ thuế có thể mua bán nông sản trên thị trường tự do. Tại thành phố chính sách mới khuyến khích kêu gọi vốn đầu tư của tư bản trong nước và nước ngoài, nhà nước chỉ kiểm soát những ngành quan trọng sống còn. NEP đã nhanh chóng cho kết quả tốt: nạn đói bị đẩy lùi, công nghiệp phục hồi, xã hội có tích luỹ và đời sống người dân tốt lên nhanh chóng.
Sau khi V. I. Lenin chết (1924), trong ban lãnh đạo đất nước này đã diễn ra cuộc đấu tranh nội bộ khốc liệt để tranh giành quyền lực mà chủ yếu là giữa hai nhóm của Stalin và Trosky. Dần dần phe Stalin thắng thế đưa Stalin vào vị trí độc tôn trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước với hình thức tập quyền cao nhất là sùng bái cá nhân Stalin. Để củng cố vị trí tuyệt đối của mình Stalin thu tóm tất cả cơ cấu quyền lực vào tay cá nhân, dùng thanh trừng nội bộ để khủng bố mọi đối thủ và mọi chính kiến bất đồng. Bộ máy Bộ dân ủy nội vụ (NKVD - Народный коммисариат внутренних дел - НКВД) được dùng như công cụ cá nhân của lãnh tụ Stalin để tạo tài liệu vu khống và tiêu diệt các đối tượng cần thanh trừng.
Về mặt kinh tế xã hội những năm 1920 - 1930 được đặc trưng bởi sự chấm dứt của chính sách kinh tế mới và thiết lập nền kinh tế nhà nước tập trung cao độ theo kinh tế kế hoạch hoá toàn diện. Xã hội Liên Xô được đặc trưng bởi sự bao trùm của bộ máy đảng trong mọi chức năng xã hội. Liên Xô ở thời gian này tiến hành thành công công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa: Cho đến nay trong nước Nga và trên thế giới vẫn còn tranh luận nhiều về công nghiệp hóa của Liên Xô trong các thập kỷ 1920 - 1930 nhưng kết quả thực tế là Liên Xô đã trở thành một nước công nghiệp lớn của thế giới trong một thời gian rất ngắn và điều này là nền tảng kinh tế cho chiến thắng của Liên Xô trong thế chiến thứ 2. Mặt khác công nghiệp hoá với tốc độ và quy mô rất lớn đòi hỏi nỗ lực cực cao của xã hội đã gây ra các căng thẳng và tạo nên nạn đói khủng khiếp làm chết vài triệu người nhất là tại Ucraina. Nạn đói tại Liên Xô những năm 1930 là lý do để ban lãnh đạo Liên Xô tiến hành tập thể hoá nông nghiệp cưỡng bức ở nông thôn. Tập thể hóa nông nghiệp cưỡng bức đã vấp phải sự phản kháng dữ dội của tầng lớp trung nông (họ được gọi là Kulak). Để hỗ trợ cho tập thể hóa Stalin cho tiến hành chiến dịch chống Kulak rất quyết liệt: toàn bộ tài sản của Kulak bị tịch thu, gia đình họ bị lưu đầy đến những vùng hoang dã. Sau công nghiệp hóa và tập thể hóa kinh tế Liên Xô chỉ còn hai thành phần kinh tế nhà nước và tập thể với đặc điểm tập trung hóa cao độ.
Đời sống tâm lý xã hội tại Liên Xô trong những năm 1920 - 1930 là kết hợp của hai yếu tố:
- Một mặt nỗi lo sợ bị khủng bố bao trùm không một ai (trừ Stalin) dù ở cương vị tầng lớp nào mà có thể được loại trừ khỏi khả năng bị NKVD xử lý và nỗi sợ khủng bố là chính sách chính thống để duy trì kỷ luật xã hội. Quy mô thanh trừng là rất lớn thậm chí người ta phải lập ra GULAG (tổng cục quản lý trại tập trung - Главное управление лагерей - ГУЛАГ) trực thuộc bộ dân ủy nội vụ NKVD. Chức năng của GULAG không chỉ là để trấn áp mà còn là cách giải quyết vấn đề nhân lực để khai phá những vùng hoang dã gian khổ.
- Mặt khác những nhân tố tích cực của cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa đã tạo động lực lớn, gây nên những làn sóng phấn khởi trong cuộc sống xã hội, những phong trào lớn được sự hưởng ứng của nhân dân, tâm lý chung của xã hội là hy sinh cho tương lai tươi sáng của đất nước và chủ nghĩa xã hội, niềm tin tuyệt đối vào lãnh tụ Stalin.
Chiến tranh thế giới thứ hai
В конце 1930-х гг. произошли резкие изменения внешней политики страны, отход от курса коллективной безопасности. Заключены Советско-германские договоры 1939 (в том числе так называемый пакт Молотова-Риббентропа), поделившие сферы влияния в Европе, в соответствии с которыми в начале Второй мировой войны в состав СССР были включены Западная Украина и Западная Белоруссия, в 1940 — страны Прибалтики, Бессарабия (Молдавия) и Северная Буковина.
В результате начатой СССР советско-финляндской войны (30 ноября 1939 — 12 марта 1940), которая нанесла сильный удар по международному авторитету страны (СССР был исключён из Лиги Наций), к СССР отошёл Карельский перешеек и др.
В 1941 Германия напала на Советский Союз (см. Великая Отечественная война 1941—1945).
Война причинила неимоверные страдания и горе всему советскому народу, привела к гибели десятков миллионов человек, разрушениям тысяч городов и сёл, разорению сельского хозяйства, разрушению промышленности, разграблению культурного достояния страны на оккупированных территориях.
В период войны советским правительством проводилась
насильственная депортация целых народов — балкарцев, ингушей, чеченцев, калмыков, крымских татар, карачаевцев, греков, турок-месхетинцев, немцев и др.
В октябре 1944 была ликвидирована и включена в состав СССР Тувинская Народная Республика.
Sau chiến tranh
Liên Xô phục hồi; chiến tranh lạnh
После победы в войне, на основании договорённостей, достигнутых участниками антигитлеровской коалиции, территория страны была расширена за счёт присоединения Южного Сахалина и Курильских островов, районов Петсамо (Печенга), Клайпеды, Кёнигсберга (Калининграда), Закарпатской Украины.
По завершении войны стране пришлось пережить долгий период восстановления и подъёма разрушенного хозяйства. Это сопровождалось крайне жёсткими мерами по восстановлению и укреплению советской власти на территориях, вошедших в состав СССР в 1939—1940 гг., репрессиями против представителей национальной буржуазии, интеллигенции, прежней государственной власти, вооружённым подавлением сопротивления на Западной Украине, в Западной Белоруссии, Прибалтике.
В послевоенный период в стране продолжались репрессии (борьба с космополитизмом, «ленинградское дело» и др.), прекратившиеся лишь со смертью Сталина; были разорваны союзнические отношения со странами Запада, началась «холодная война» двух систем, гонка вооружений.
Tan băng
На XX съезде КПСС (1956) Н. С. Хрущёв выступил с критикой так называемого культа личности Сталина. Началась реабилитация жертв репрессий, было разрешено возвращение на родину депортированным народам (за исключением крымских татар и турок-месхетинцев); больше внимания стало уделяться повышению уровня жизни народа, развитию сельского хозяйства, жилищного строительства, лёгкой промышленности.
Концентрация научных и производственных сил, материальных средств на отдельных направлениях науки и техники позволила осуществить значительные достижения: создана первая в мире атомная электростанция (1954), запущен первый искусственный спутник Земли (1957), первый космический корабль с лётчиком-космонавтом (1961); расширились международные связи СССР, уменьшилась угроза ядерной войны (Договор о запрещении испытаний ядерного оружия 1963 и др.).
Trì trệ
Однако попытки обновления страны в рамках сохранявшейся тоталитарной партийно-государственной системы осуществлялись непоследовательно и потерпели неудачу — к власти пришли консервативные силы. Партию и государство возглавил Л. И. Брежнев. Хозяйственные реформы, предпринятые по инициативе А. Н. Косыгина, были свёрнуты, экономика продолжала развиваться по экстенсивному пути, в значительной мере за счёт экспорта нефти и газа, хищнического использования природных ресурсов, что позволяло поддерживать усиленную милитаризацию страны.
Ослабление международной напряженности чередовалось с вооружённым подавлением попыток реформ в Венгрии (1956), Чехословакии (1968) и вводом войск в Афганистан (1979), которые приводили к обострению конфронтации двух систем, усилению гонки вооружений.
Cải tổ và tan rã
С 1985 М. С. Горбачёв и его сторонники начали политику перестройки, резко выросла политическая активность народа, сформировались массовые, в том числе национальные, движения и организации. Попытки реформирования советской системы привели к углублению кризиса в стране. Союзные республики одна за другой принимали декларации о собственном суверенитете. На территории страны вспыхивали межнациональные конфликты, которые удавалось на время подавить лишь применением вооружённой силы.
Ряд государственных и партийных деятелей, под лозунгами сохранения единства страны и восстановления жёсткого партийно-государственного контроля над всеми сферами жизни, предприняли попытку государственного переворота (ГКЧП, 19 августа 1991), но не получили поддержки от народа. Эта попытка привела к ещё большему углублению противоречий между союзными республиками, нарастанию взаимного недовольства между национальными элитами.
В декабре 1991 Белоруссия, Россия и Украина констатировали прекращение существования СССР и подписали Соглашение о создании Содружества Независимых Государств (СНГ) (8 декабря 1991, Минск). Азербайджан, Армения, Белоруссия, Казахстан, Киргизия, Молдавия, Россия, Таджикистан, Туркмения, Узбекистан, Украина в Декларации (21 декабря 1991, Алма-Ата) заявили о приверженности целям и принципам Соглашения о создании Содружества Независимых Государств (СНГ).
Советский Союз оставил после себя неизгладимый след в истории всего человечества, многих стран и народов. Государство, созданное на царившем после 1917 года революционном энтузиазме и добившееся путём неимоверного напряжения человеческих сил и энергии выдающихся достижений в культуре, науке и технике, оказалось в конце своего существования одной из величайших мировых империй, державшейся на жёстком идеологическом и партийно-государственном контроле. Распад Советского Союза, произошедший во многом благодаря ослаблению этого контроля, привёл к радикальным изменениям на политической карте и исчезновению биполярного мира, строившегося на балансе сил двух сверхдержав — СССР и США.
Сайты -[http://cccp.narod.ru], http://ussr-online.ru]
Phân chia lãnh thổ Liên Xô
В [[1954]] — [[1991 Советский Союз состоял из 15 союзных Советских Социалистических Республик (ССР), которые, в свою очередь, делились на области. При этом Латвийская, Литовская, Эстонская, Молдавская и Армянская ССР областного деления не имели.
В состав РСФСР также входили края, а в состав краёв — автономные области. В состав областей и краёв РСФСР также входили национальные округа (впоследствии именовавшиеся автономными округами).
В состав некоторых союзных республик (Россия, Грузия, Азербайджан, Узбекистан, Таджикистан) входили Автономные Советские Социалистические Республики (АССР) и автономные области.
Все вышеуказанные административно-территориальные единицы делились на районы и города областного, краевого и республиканского подчинения.
Danh nhân thời Xô viết
Những nhà lãnh đạo quan trọng
- Vladimir Ilyich Lenin (Ulyanov) (Владимир Ильич Ленин, Ульянов)
- Lev Davydovich Trotsky (Лев Давыдович Троцкий)
- Iosif Vissarionovich Stalin (Dzhugashvili) (Иосиф Виссарионович Сталин, Джугашвили)
- Nikita Sergeevich Khrushov (Никита Сергеевич Хрущёв)
- Leonid Ilyich Brezhnev (Леонид Ильич Брежнев)
- Mikhail Sergeevich Gorbachov (Михаил Сергеевич Горбачёв)
Một số chính khách khác
- Feliks Edmundovich Dzerzhinsky (Феликс Эдмундович Дзержинский)
- Maksim Maksimovich Litvinov (Максим Максимович Литвинов)
- Vyacheslav Mikhailovich Molotov (Вячеслав Михайлович Молотов)
- Lavrenty Pavlovich Beria (Лаврентий Павлович Берия)
- Andrey Andreevich Gromyko (Андрей Андреевич Громыко)
Nhà quân sự
- Georgi Konstantinovich Zhukov (Георгий Константинович Жуков)
Các nhà khoa học và kỹ thuật
- Andrei Dmitrievich Sakharov (Андрей Дмитриевич Сахаров)
- Igor Vasilevich Kurchatov (Игорь ВасильевичКурчатов]]
- Sergei Pavlovich Korolyov (Сергей Павлович Королёв)
- Yuri Alekseevich Gagarin (Юрий Алексеевич Гагарин)
Văn nghệ sĩ
- Boris Leonidovich Pasternak (Борис Леонидович Пастернак)
- Mikhail Aleksandrovich Sholokhov (Михаил Александрович Шолохов)
- Aleksandr Isaevich Solzhenitsyn (Александр Исаевич Солженицын)
Vận động viên
- Larisa Semyonovna Latynina (Лариса Семёновна Латынина)
- Vladislav Aleksandrovich Tretyak (Владислав Александрович Третьяк)
- Lev Ivanovich Yashin (Лев Иванович Яшин)
Xem thêm
- Nga
- Đảng Cộng sản Liên Xô
- Danh sách lãnh tụ Liên Xô
- KGB (КГБ, tức Комитет Государственной Безопасности, Uỷ ban An ninh Nhà nước)
Liên kết ngoài
- Chính quyền Xô viết là gì?, diễn văn của Lenin (Что такое советская власть?
- [http://www.hist.msu.ru/ER/Etext/cnst1924.htm Hiến pháp Liên Xô 1924]
- [http://www.hist.msu.ru/ER/Etext/cnst1936.htm Hiến pháp Liên Xô 1936]
- [http://www.hist.msu.ru/ER/Etext/cnst1977.htm Hiến pháp Liên Xô 1977]
- [http://cccp.narod.ru/ Liên Xô]
Thể loại:Cộng sản
Thể loại:Quốc gia thời xưa
Thể loại:Lịch sử Nga
Thể loại:Cựu quốc gia
ko:소비에트 연방
ja:ソビエト連邦
simple:Soviet Union
th:สหภาพโซเวียต
Việt Nam
Việt Nam (tên đầy đủ là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) là quốc gia nằm phía đông của bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á. Việt Nam giáp giới với nước Trung Quốc ở phía bắc, Vịnh Thái Lan ở phía tây nam, nước Campuchia và nước Lào ở phía tây, Biển Đông ở phía đông và nam (tại đó có các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa mà Việt Nam đang tranh chấp toàn bộ hay từng phần với một số quốc gia láng giềng).
Địa lý
Hoàng Sa
:Xem thêm: Địa lý Việt Nam, Du lịch Việt Nam, Hoa quả Việt Nam, Đa dạng sinh học Việt Nam
Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông Nam Châu Á. Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này; ngoài ra, Việt Nam cũng xem các quần đảo như Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ của mình. Việt Nam có biên giới đất liền với Trung Quốc (1281 km), Lào (2130 km) và Campuchia (1228 km) và bờ biển dài 3444 km tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ, Biển Đông và vịnh Thái Lan.
Việt Nam có diện tích 331.688 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4200 km² biển. (Tuy nhiên, theo quan điểm của nhà nước và của nhiều người dân, diện tích biển của Việt Nam rộng hàng triệu km², bao gồm cả vùng biển của hai quần đảo đang bị tranh chấp.) Địa thế có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20%. Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75%. Miền Bắc gồm có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng; miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3144 mét, tại đỉnh Phan Si Phăng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ở miền nam với hai mùa (mùa mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 3) và khí hậu gió mùa ở miền bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa hạ, mùa thu và mùa đông). Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hoà một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm trung bình là 84% suốt năm. Lượng mưa hằng năm từ 1200 đến 3000 mm, và nhiệt độ hằng năm từ 5°C đến 37°C.
Việt Nam có nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền, rừng tự nhiên và một số mỏ dầu ngoài khơi. Hàng năm, Việt Nam luôn phải phòng chống bão và lụt lội.
Các thành phần dân tộc
Việt Nam có khoảng 54 thành phần dân tộc khác nhau. Dân tộc Việt (Kinh) chiếm gần 90%, tập trung ở những miền châu thổ và đồng bằng ven biển. Những dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, tập trung ở các vùng cao nguyên. Trong số người thiểu số, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường, Hoa, Khmer, Nùng..., mỗi dân tộc có dân số khoảng một triệu người. Các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu có số dân ít nhất, với khoảng vài trăm cho mỗi nhóm. Có một số dân tộc đã định cư trên lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời, có các dân tộc chỉ mới di cư vào Việt Nam trong vài trăm năm trở lại đây.
Kinh tế
Việt Nam là một quốc gia nghèo và đông dân đang dần bình phục và phát triển sau sự tàn phá của chiến tranh, sự mất mát viện trợ tài chính từ khối các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, và sự yếu kém của nền kinh tế tập trung. Chính sách Đổi Mới năm 1986 thiết lập nền "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997. Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999. Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 trong khi tình hình kinh tế thế giới đang suy sụp. Hiện nay, giới lãnh đạo Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự do hoá nền kinh tế và thi hành các cải cách cơ sở hạ tầng cần thiết để đổi mới kinh tế và tạo ra các ngành công nghiệp xuất khẩu có tính cạnh tranh hơn.
Việt Nam đang thúc đẩy việc gia nhập WTO vào 2005, và đẩy mạnh việc tạo công ăn việc làm để đáp ứng với tốc độ tăng trưởng dân số.
GDP theo đầu người (2004):
- Theo sức mua tương đương: 2.700 USD
- Theo tỷ giá hối đoái: 485 USD
Tỷ lệ tăng trưởng GDP (2003): 7,24%
Tỷ lệ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm (1990-2003): 6,12%
Tỷ trọng trong GDP (2004)
- Nông nghiệp: 21,8%
- Công nghiệp và xây dựng: 40,1%
- Dịch vụ: 38,1%
Tỷ giá hối đoái (Trung bình năm 2005) -
- 1USD = 15.850 VND
Tỷ lệ lạm phát (cuối năm 2004; tính theo năm): 9.5%
Tài chính công (chính quyền trung ương, tính theo tỷ lệ % của GDP theo giá hiện hành, ước tính cho năm 2003) -
- Thu: 22,66%
- Chi: 24,70%
- Thâm hụt: 2,04%
Nợ nước ngoài (% GDP, tại thời điểm cuối 2002): 40%
Cán cân thanh toán theo ngoại tệ chuyển đổi (2003)
- Xuất khẩu (f.o.b): 19,88 tỉ USD
- Nhập khẩu (c.i.f) : 24,99 tỉ USD
- Thâm hụt thương mại: 5,11 tỉ USD
Các mặt hàng xuất khẩu chính (2003):
Dầu thô (19%), hàng dệt may (18%), hải sản (11%), giày dép (11%), gạo (4%), cà phê (3%), các loại khác (34%).
Các mặt hàng nhập khẩu chính (2003):
Máy công cụ (21%), xăng dầu (10%), vải (8%), thép (7%), quần áo (5%), xe máy (1%); linh kiện điện tử (2%), phân bón (2%), các loại khác (44%).
Các thị trường xuất khẩu chính (2003):
Hoa Kỳ (20%), Nhật Bản (14%), Trung Quốc (9%) Úc (7%), Singapore (5%), Đài Loan (4%), Đức (4%), Anh (4%), Pháp (2%), Hà Lan (2%), các nước khác (29%).
Các chỉ số:
- Tỷ giá liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Theo ước tính của Bộ Tài chính
- do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đánh giá xếp hạng trong 117 nước [http://www.vnn.vn/kinhte/2005/10/495411/]
Chính trị
Việt Nam là một nuớc theo chế độ xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tổng bí thư của đảng này hiện nay là ông Nông Đức Mạnh.
Bên cạnh đảng lãnh đạo về đường lối, hệ thống chính trị Việt Nam còn có chính phủ được điều hành bởi người đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải và Quốc hội Việt Nam, cơ quan lập pháp và giám sát chính phủ, đứng đầu bởi Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An. Ngoài ra, một vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị Việt Nam là Chủ tịch nước, hiện được đảm nhiệm bởi ông Trần Đức Lương.
Đối ngoại
Đảng Cộng Sản và Nhà nước Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển".
Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 168 nước thuộc tất cả các châu lục, bao gồm tất cả các nước và trung tâm chính trị lớn của thế giới và cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Đồng thời, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 165 nước và vùng lãnh thổ. Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU... Vai trò đối ngoại của Việt Nam trong đời sống chính trị quốc tế đã được thể hiện đậm nét thông qua việc tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie) năm 1997, Hội nghị cấp cao ASEAN năm 1998, Hội thảo quốc tế về hợp tác và phát triển Việt Nam và Châu Phi năm 2003, Hội nghị cấp cao ASEM-5 năm 2004. Năm 2006, Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh APEC.
Lịch sử
:Bài chính: Lịch sử Việt Nam
Lịch sử Việt Nam được bắt nguồn từ sự định cư của các tộc người Việt cổ trong thời Hồng Bàng mà theo nhiều tài liệu là từ năm 2879 trước Công Nguyên (TCN). Bắt đầu từ thế kỷ 2 TCN, quốc gia này bị các tập đoàn phong kiến phương Bắc cai trị trong hơn 1000 năm. Sau nhiều lần khởi nghĩa không thành, đến năm 938, nhà nước Việt Nam dành được độc lập sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng. Tuy nhiên, người Việt vẫn chịu ảnh hưởng nhiều bởi thể chế chính trị và xã hội, hệ thống chữ Hán (thường gọi là chữ Nho), nghệ thuật và giáo dục của người Trung Quốc. Trải qua các triều đại phong kiến, và với những lần mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, đất nước Việt Nam thống nhất với phạm vi địa lý như hiện nay vào năm 1802.
1802, Thăng Long.]]
Đến giữa thế kỷ 19, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Trong thế chiến thứ 2, phát xít Nhật chiếm Đông Dương. Ngay sau khi quân Đồng Minh dành thắng lợi, người Việt Nam đã giành lấy chính quyền từ tay phát xít Nhật. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc Lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, nhà nước đầu tiên của nước Việt Nam hiện đại.
Sau Thế chiến thứ hai, người Pháp muốn chiếm lại thuộc địa Đông Dương nhưng vấp phải sự phản kháng quyết liệt của người Việt Nam. Sau chiến thắng của Việt Minh tại chiến trường Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương. Hiệp định Geneva được ký kết, chấm dứt ách đô hộ gần một trăm năm của Pháp tại Việt Nam, đồng thời chia đôi nước Việt Nam và lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới, sau 1 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử cả nước, tuy nhiên do Hoa Kỳ không tuân thủ hiệp định Genève, đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền ở Miền Nam Việt Nam, do đó hình thành miền Bắc là nuớc | | |